Gừng – Dược liệu CCC

Gừng


Gừng là một loài thực vật hay được dùng làm gia vị, thuốc. Nó được William Roscoe đặt danh pháp chính thức năm 1807, mặc dù nó đã được các tác giả khác đặt cho một loạt các danh pháp khác từ trước đó, chẳng hạn như từ trước năm 1753 khi Carl Linnaeus đưa phân loại học thành một khoa học – như Zingiber majus công bố năm 

Xóa

Mô tả

Còn gọi tà khương, sinh khương, can khương.

Tên khoa học Zingiber offcinale Rose.

Thuộc họ Gừng Zingiberaceae.

Khương (Rhizoma Zingiberis) là thân rễ của cây gừng tươi hoặc khô. Tùy theo tươi hay khô, vị thuốc mang tên khác nhau:

  • Sinh khương là củ (thân rể) tươi.
  • Can khương là thân rễ phơi khô.

1. Giới thiệu chung

Gừng là một loại cày nhỏ, sống lâu năm, cao 0,60 đến 1m. Thân rễ mọc lên thành củ, lâu dần thành xơ. Lá mọc so le, không cuống, có bẹ, hình mác dài 15 đến 20cm, rộng chừng 2cm, mặt bóng nhẵn, gân giữa hơi trắng nhạt, vò có mùi thơm. Trục hoa xuất phát từ gốc, dài tới 20cm, cụm hoa thành bông mọc sít nhau, hoa dài 5cm, rộng 2-3cm, lá bắc hình trứng, dài 2,5cm, mép lưng màu vàng, đài hoa dài chừng lem, có 3 răng ngắn, 3 cành hoa dài chừng 2cm, màu vàng xanh, mép cánh hoa màu tím, nhị cũng tím. Loài gừng trồng ít ra hoa.

Gừng được trồng ờ khắp nơi trong nước ta để lấy củ ăn và làm thuốc, dùng trong nước và xuất khẩu.

2. Thành phần hóa học

Trong gừng có từ 2-3% tinh dầu. Ngoài ra còn có chất nhựa dầu (5%), chất béo (3,7%), tinh bột và các chất cay như zingeron, zingerola và shogaola.

3. Công dụng của gừng

Theo Đông y: Sinh khương vị cay, tính hơi ôn, vào ba kinh phế, tỳ và vị. Có tác dụng phát biểu tán hàn, ôn trung, làm hết nôn, tiêu đờm, hành thủy giải độc. Dùng chữa ngoại cảm, biểu chứng, bụng đẩy trướng, nôn mửa, giải độc bấn hạ, nam tinh, cua cá, đờm ẩm sinh ho. Can khương vị cay, tính ỏn, bào khương (can khương bào chế rổi) vị cay đắng tính đại nhiệt. Vào sáu kinh tâm, phế, tỳ, vị, thận và đại tràng. Có tác dụng ôn trung tán hàn, hồi dương thông mạch, dùng chữa thổ tả, chân tay lạnh, mạch nhỏ.

Gừng là một vị thuốc giúp tiêu hóa, dùng trong những trường hợp kém ăn uống khó tiêu, nôn mửa đi ỉa, cảm mạo, phong hàn làm thuốc ra mồ hôi, chữa ho mất tiếng. Gừng tươi (sinh khương) dùng với liều 3-6g dưới dạn; thuốc sắc hay thuốc pha hoặc rượu gừng tươi (mỗi ngày 2-5ml).

Ngoài công dụng làm thuốc, gừng còn tiêu thụ mạnh trên thị trường trong nước và thế giới dạng nguyên liệu, gia vị, mứt gừng.

Đơn thuốc có gừng:

  • Chữa nhức đầu, lạnh bụng, nôn ọe, có đờm Can khương 10g, trích cam thảo 4g, nước 300ml sắc còn 100ml, chia nhiểu lần uống trong ngày Thấy đỡ thì uống bớt đi.
  • Đi tả ra nước: Can khương sấy khô tán nhỏ dùng nước cơm chiên thuốc, mỗi lần uống 2-4g
  • Đi lỵ ra máu: Can khương thiêu tồn tính Ngày uống nhiều lần, mỗi lần 2-4g, chiêu bằng nước cơm hay nước cháo.
  • Cảm cúm, nhức đầu, ho, thân thể đau mỏi: Gừng sống giã nhỏ, bọc vào mớ tóc rối, tẩm rượi xào nóng đánh khắp người và xát vào chỗ đau mỏi
  • Chữa nôn mửa: Gừng sống nhắm từng ít mộ cho đến khi hết nôn.

Để biết thêm thông tin về nhà máy, vùng dược liệu, các dược liệu, chiết xuất khác quý khách hàng có thể liên hệ tới số hotline 0909 902 115  hoặc truy cập website https://ccc.vn để được tư vấn và hỗ trợ hoàn toàn miễn phí

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Gừng”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

    Cart