Ngải Cứu – Dược liệu CCC

Ngải Cứu


Ngải cứu còn có tên thuốc cứu, nhả ngải, quá sú, cỏ linh li, danh pháp hai phần: Artemisia vulgaris, là một loài thực vật thuộc họ Cúc

Xóa

Mô tả

Tên gọi khác: Cây thuốc cứu, cây thuốc cao, ngải điệp.

Tên khoa học: Artemisia vulgaris L.

Họ: Cúc Asteraceae (Compositae).

1. Giới thiệu chung

Ngải cứu là một loại cỏ sống lâu năm, cao 50 – 60cm, thân to có rãnh dọc. Lá mọc so le, rộng, không có cuống (nhưng lá phía dưới thường có cuống), xè thùy lông chim, màu lá ờ hai mặt rất khác nhau: Mặt trên nhẵn màu lục sẫm, mặt dưới màu trắng tro do có rất nhiêu lông nhỏ, Ưắng, Hoa mọc thành chùy kép gồm rất nhiều cụm hoa hình đầu

Ngải cứu mọc hoang ở nhiều nơi ttong nước ta, còn thấy mọc ở nhiều nước khác ở châu Á, cả châu Âu nữa. Ở nước ta một sô’ gia đình trồng ngải cứu có tính chất quy mô nhỏ quanh nhà. Chưa thấy trồng quy mô lớn.

Thường hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với tết mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong dâm mát. Có khi hái về phơi khô tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung thường dùng làm mồi cứu.

Trong phuơng pháp chữa bệnh bằng châm cứu, người ta có thể kích thích những huyệt hoặc bằng kim châm sâu vào da thịt, hoặc bằng cách đặt lên những huyệt một miếng gừng tươi mỏng có châm vài lỗ dể tránh cho da thịt khỏi bị cháy bỏng nhưng hơi nóng vẫn ngâíin tới da thịt rồi vê một nấm ngải nhung bằng một mổi thuốc lào đặt lên miếng gừng mà đốt; sức nóng kích thích huyệt (gọi là cứu). Sở dĩ người ta dùng lông ngải cứu vì nó có nhiều tinh dầu, cháy lâu không tắt.

2. Thành phần hóa học

Hiên nay hoạt chất của ngải cứu chưa đựoc xác định, mặc dầu ngải cứu được dùng cả trong đông y và tây y. Chỉ mới biết trong ngải cứu có tinh dầu, ít tanin. Thành phần chủ yêu của tinh dầu ngải cứu là xineol và ot-thuyon. Ngoài ra còn một ít adenin, cholin.

3. Tác dụng dược lý

Tính dầu ngải cứu thuộc các tinh dầu có tính chất làm kích thích cho saya-thuyon có tác dụng hưng phấn, nhưng dùng nhiều quá có thê gây điên cuồng.

Nói chung tác dụng dược lý của ngải cứu ít thấy tài liệu nghiên cứu mặc dù ngải cứu được đưa vào Dược điển của nhiều nước trên thế giới, chủ yếu làm thuốc điều kinh.

3. Công dụng của ngải cứu

Đông y coi ngải cứu là một vị thuốc có tính hơi ôn, vị cay, dùng làm thuốc ôn khí huyết, trục hàn thấp, điểu kinh, an thai, dùng chữa đau bụng do hàn, kình nguyệt không đều, thai động không yên, thổ huyết, máu cam.

Ngải cứu được dùng làm thuốc điều kinh: Một tuần lễ trước dự kỳ có kinh, uống mỗi ngày từ 6 đến 12g (tối đa 20g), sắc với nước hay hãm với nước sôi như hãm chè, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng thuốc bột (5-10g) hay dưới dạng thuốc cao đặc l-4g.

Nếu có thai, thuốc không gây sẩy thai vì không có tác dụng kích thích đối với tử cung có thai.

Ngoài công dụng điều kinh, ngải cứu còn được dùng làm thuốc giúp sự tiêu hóa, chữa đau bụng, nôn mửa, thuốc giun, sốt rét.

Ngải nhung (lông của lá) dùng làm mồi ngải cứu như đã nói trên.

Để biết thêm thông tin về nhà máy, vùng dược liệu, các dược liệu, chiết xuất khác quý khách hàng có thể liên hệ tới số hotline 0909 902 115  hoặc truy cập website https://ccc.vn để được tư vấn và hỗ trợ hoàn toàn miễn phí

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Ngải Cứu”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

    Cart